|
I. HÌNH
THỨC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG
Ngoài việc tiếp tục
duy trì hình thức tổ chức hành nghề công chứng là Phòng công chứng, thực hiện
chủ trương từng bước xã hội hóa công chứng,
Luật công chứng còn quy định một hình thức tổ chức hành nghề công chứng
nữa là Văn phòng công chứng.
1. PHÒNG CÔNG CHỨNG
Phòng công chứng do Uỷ ban nhân
dân cấp tỉnh quyết định thành lập.
Phòng công chứng là đơn vị sự
nghiệp thuộc Sở Tư pháp, có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng.
Người đại diện theo pháp luật của
Phòng công chứng là Trưởng phòng.
Trưởng phòng công chứng phải là
công chứng viên và do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm,
cách chức.
Tên gọi của Phòng công chứng bao
gồm số thứ tự thành lập và tên của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi
Phòng công chứng được thành lập.
Thành lập Phòng công chứng
Sở Tư pháp xây dựng Đề án thành
lập Phòng công chứng trình Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định.
Đề án nêu rõ:
- Sự cần thiết thành lập;
- Dự kiến về tổ chức, tên gọi,
nhân sự;
- Địa điểm đặt trụ sở, các điều
kiện vật chất;
- Kế hoạch triển khai thực hiện.
Kể từ ngày có quyết định thành lập Phòng công
chứng, trong thời hạn ba mươi ngày Sở Tư pháp phải đăng báo trung ương hoặc báo
địa phương nơi quyết định thành lập trong ba số liên tiếp về các nội dung sau:
-
Tên gọi, địa chỉ trụ sở của Phòng công chứng; -
Số, ngày, tháng, năm quyết định thành lập và ngày bắt đầu
hoạt động của Phòng công chứng.
2. VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG
Văn phòng công chứng do công chứng viên thành lập.
Văn phòng công chứng do một công chứng viên thành
lập được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân. Văn phòng
công chứng do hai công chứng viên trở lên thành lập được tổ chức và hoạt động
theo loại hình công ty hợp danh.
Người đại diện theo pháp luật của Văn phòng công
chứng là Trưởng Văn phòng. Trưởng Văn phòng công chứng phải là công chứng viên.
Văn phòng công chứng có trụ sở, con dấu và tài
khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính bằng nguồn thu từ
kinh phí đóng góp của công chứng viên, phí công chứng, thù lao công chứng và
các nguồn thu hợp pháp khác.
Tên gọi của
Văn phòng công chứng do công chứng viên lựa chọn nhưng phải bao gồm cụm từ "Văn
phòng công chứng", không được trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của tổ chức hành
nghề công chứng khác, không được sử dụng từ ngữ, ký hiệu vi phạm truyền thống
lịch sử, văn hoá, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc.
a) Thành lập Văn phòng công chứng
Công chứng viên phải
có hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng gửi Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh,
Hồ sơ gồm có:
- Đơn đề nghị thành lập Văn phòng công chứng;
- Đề án thành lập Văn phòng công chứng nêu rõ sự cần
thiết thành lập, dự kiến về tổ chức, tên gọi, nhân sự, địa điểm đặt trụ sở, các
điều kiện vật chất và kế hoạch triển khai thực hiện;
- Bản sao quyết định
bổ nhiệm công chứng viên.
Kể từ ngày nhận đủ
hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng, trong thời hạn hai mươi ngày, Uỷ
ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định cho phép thành lập Văn phòng công
chứng. Trong trường hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người
bị từ chối có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật.
b) Đăng ký hoạt động Văn phòng công chứng
Kể từ ngày nhận được quyết định cho phép thành
lập, trong thời hạn chín mươi ngày Văn phòng công chứng phải đăng ký hoạt động
tại Sở Tư pháp của địa phương cho phép thành lập. Khi đăng ký hoạt động phải
có:
- Đơn đăng ký hoạt động;
- Giấy tờ chứng minh về trụ sở ở địa phương nơi
quyết định cho phép thành lập.
Kể từ ngày nhận được các giấy tờ đăng ký hoạt động,
trong thời hạn mười ngày làm việc, Sở Tư
pháp cấp giấy đăng ký hoạt động của Văn phòng công chứng; trường hợp từ chối
phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người bị từ chối có quyền khiếu
nại theo quy định của pháp luật.
Văn phòng công chứng
được hoạt động kể từ ngày Sở Tư pháp cấp giấy đăng ký hoạt động.
c) Đăng báo nội dung đăng ký hoạt động của Văn phòng công chứng
Kể từ ngày được cấp
giấy đăng ký hoạt động, trong thời hạn ba mươi ngày, Văn phòng công chứng phải đăng
báo trung ương hoặc báo địa phương nơi đăng ký hoạt động trong ba số liên tiếp
về những nội dung sau:
- Tên gọi, địa chỉ
trụ sở của Văn phòng công chứng;
- Họ, tên, số quyết định
bổ nhiệm công chứng viên của công chứng viên hành nghề trong Văn phòng công
chứng;
- Số, ngày, tháng, năm
cấp giấy đăng ký hoạt động, nơi đăng ký hoạt động và ngày bắt đầu hoạt động.
II. QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG
1.
Quyền của tổ chức hành nghề công chứng (Phòng công chứng, Văn phòng công chứng)
- Thuê nhân viên làm
việc cho tổ chức hành nghề công chứng;
- Thu phí công
chứng, thù lao công chứng, chi phí khác;
- Có các quyền khác
theo quy định của Luật công chứng và các quy định khác của pháp luật có liên
quan.
2. Nghĩa vụ của tổ chức hành nghề công chứng (Phòng công chứng, Văn phòng
công chứng)
- Niêm yết lịch làm
việc, thủ tục công chứng, phí công chứng, thù lao công chứng, nội quy tiếp người
yêu cầu công chứng tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng;
- Thực hiện chế độ
làm việc theo ngày, giờ làm việc của cơ quan hành chính nhà nước;
- Chấp hành các quy định
của pháp luật về lao động, thuế, tài chính, thống kê;
- Chấp hành các yêu
cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc báo cáo, kiểm tra, thanh tra;
- Bồi thường thiệt
hại do lỗi mà công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng gây ra cho người
yêu cầu công chứng;
- Lưu trữ hồ sơ công
chứng;
- Văn phòng công
chứng có nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên của
tổ chức mình;
- Các nghĩa vụ khác
theo quy định của Luật công chứng và các quy định khác của pháp luật có liên
quan.
Quay lại
Lên trên
In
|